Đừng đi!
Hãy để lại thông tin liên hệ, các kỹ sư của chúng tôi sẽ đưa ra giải pháp phù hợp riêng cho dự án của quý vị.

Đối với đá vôi mềm có hàm lượng hạt mịn cao, máy nghiền quay hiệu quả hơn máy nghiền hàm: năng suất của phân cấp thành phẩm cao hơn, giảm thiểu hiện tượng nghiền quá mức và tải trọng, không cần phải loại bỏ trước các hạt mịn, đồng thời tạo ra các hạt có hình khối.
Để xử lý đá vôi mềm có tỷ lệ hạt mịn trên 30% tại đầu vào, giải pháp tối ưu là máy nghiền quay, trong đó tỷ lệ sản phẩm đầu ra đạt kích thước yêu cầu là 72% theo kết quả thử nghiệm thực địa tại 12 cơ sở sản xuất sử dụng đá vôi mềm có mật độ dưới 2,6 g/cm³.
Khi xử lý nguyên liệu thô có tỷ lệ phân đoạn nhỏ hơn 5 mm bằng 38% ở đầu vào, máy nghiền hàm đảm bảo sản lượng sản phẩm thành phẩm có kích thước hạt theo yêu cầu ở mức 41% theo dữ liệu từ các thử nghiệm sản xuất, trong đó tỷ lệ hạt bị nghiền quá mịn (dưới 1 mm) chiếm 22% so với tổng khối lượng sản phẩm đầu ra, còn máy nghiền quay, với các thông số đầu vào tương tự, cho thấy tỷ lệ sản phẩm thành phẩm ở mức 72% trong khi tỷ lệ hạt bị nghiền quá mịn có kích thước nhỏ hơn 1 mm là 9% theo kết quả của các thử nghiệm thực địa tương tự.
Máy nghiền quay, nhờ nguyên lý nghiền va đập, cho phép các hạt mịn vốn đã có sẵn trong nguyên liệu thô đi qua khoang làm việc mà không cần tác động bổ sung, điều này được xác nhận bởi các số liệu, theo đó, lượng hạt mịn tại đầu vào trong khoảng từ 25% đến 45% không làm tăng tải trọng lên bộ truyền động quá 7% so với chỉ số danh định khi xử lý nguyên liệu mà không loại bỏ trước các hạt mịn, trong khi đó, máy nghiền hàm với hàm lượng hạt mịn tương tự trong nguyên liệu ban đầu lại cho thấy tải trọng lên động cơ tăng thêm 28% theo số liệu đo đạc trên các dây chuyền sản xuất đang hoạt động.
Trong bảng so sánh các thông số, các dữ liệu sau đây được nêu ra dựa trên kết quả thử nghiệm thực địa năm 2025: chỉ số của máy nghiền má về tỷ lệ sản phẩm thành phẩm trong đầu ra khi tỷ lệ hạt mịn trong đầu vào là 38% là 41%, chỉ số của máy nghiền cánh quạt đối với thông số này là 72%; chỉ số của máy nghiền hàm về mức tăng tải trọng lên bộ truyền động so với giá trị danh định là 28%, chỉ số của máy nghiền cánh quạt đối với thông số này là 7%, chỉ số của máy nghiền hàm về tỷ lệ phân đoạn bị nghiền quá mức dưới 1 mm là 22%, chỉ số của máy nghiền quay theo thông số này là 9%, tất cả các giá trị nêu trên đều là kết quả của dữ liệu thực nghiệm thu được tại 12 cơ sở sản xuất độc lập với đá vôi mềm có mật độ từ 2,2 đến 2,6 g/cm³.
Câu hỏi đầu tiên: Liệu có thể sử dụng máy nghiền hàm để xử lý đá vôi mềm có hàm lượng hạt mịn cao hay không? Câu trả lời: Có thể, nhưng trong trường hợp này sẽ cần thêm một công đoạn phân loại để đưa phần vật liệu trở lại nghiền lại, chiếm khoảng 59% so với tổng khối lượng sản phẩm thu được ở đầu ra, theo kết quảthử nghiệm đo lường. Câu hỏi thứ hai: Có cần loại bỏ trước các hạt mịn khỏi nguyên liệu thô trước khi đưa vào máy nghiền quay không? Câu trả lời: Việc loại bỏ trước không bắt buộc vì sự gia tăng tải trọng lên bộ truyền động không vượt quá 7% khi hàm lượng hạt mịn trong nguyên liệu ban đầu theo dữ liệu thử nghiệm kỹ thuật. Câu hỏi thứ ba: Sự khác biệt về thành phần kích thước hạt của sản phẩm sau khi xử lý bằng hai loại máy nghiền nêu trên là gì? Trả lời: Sản phẩm sau khi qua máy nghiền hàm có hình dạng hạt không đồng đều với tỷ lệ hạt hình kim ở mức 31%, còn sản phẩm sau khi qua máy nghiền quay chủ yếu có hình khối, với tỷ lệ hạt hình kim ở mức 8%, theo kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm đối với các mẫu thu được từ các dây chuyền sản xuất.